Đà La Ni là gì? Trong Phật giáo, Đà La Ni (Dhāraṇī) thường được dịch là Tổng Trì, hàm nghĩa gìn giữ các pháp lành, không để quên mất điều thiện và ngăn ngừa những điều bất thiện sinh khởi. Trong phẩm Đà La Ni của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Dược Vương Bồ Tát, Dũng Thí Bồ Tát, các vị Thiên Vương cùng những vị khác đã tuyên nói thần chú và phát nguyện hộ trì những người đọc tụng, thọ trì, hiểu nghĩa và thực hành kinh pháp. Qua lời giảng của Pháp sư Thánh Nghiêm, bài viết giúp người đọc tìm hiểu ý nghĩa Đà La Ni, các cách phân loại và nội dung hộ trì Chánh pháp được trình bày trong phẩm kinh này.
1. Đà La Ni nghĩa là gì?
Đà La Ni là từ phiên âm tiếng Phạn (dhāraṇī), có nghĩa là Tổng Trì.
Chữ Tổng có nghĩa là không khởi tâm làm điều ác, không để mất những điều thiện đã có.
Chữ Trì có nghĩa là có thể gìn giữ điều thiện, ngăn ngừa điều ác.
Trong Đại Trí Độ Luận, quyển thứ năm, có giải thích:
“Đà La Ni, tiếng nhà Tần dịch là Năng Trì, hoặc Năng Già.
Năng Trì nghĩa là tập hợp các pháp lành, có thể gìn giữ khiến chúng không phân tán, không mất đi. Ví như chiếc bình nguyên vẹn đựng nước thì nước không rò rỉ, thất thoát.
Năng Già nghĩa là khi tâm niệm bất thiện, những gốc rễ của điều ác sắp sinh khởi, thì có thể ngăn chặn, khiến chúng không sinh ra. Nếu muốn làm điều ác, có thể gìn giữ tâm mình để không thực hiện điều ác ấy. Đó gọi là Đà La Ni.”
Theo đó, Đà La Ni có bốn loại:
1. Pháp Đà La Ni: Đối với giáo pháp của Phật, sau khi nghe có thể ghi nhớ và gìn giữ, không quên mất. Cũng gọi là Văn Đà La Ni.
2. Nghĩa Đà La Ni: Đối với nghĩa lý của các pháp, có thể tổng nhiếp và ghi nhớ, không quên mất.
3. Chú Đà La Ni: Nương vào sức thiền định mà phát ra những lời chú bí mật, có những sự linh nghiệm khó lường. Đối với những câu chú ấy, có thể ghi nhớ và thọ trì, không để mất.
4. Nhẫn Đà La Ni: An trụ nơi thật tướng của các pháp, có khả năng gìn giữ và an nhẫn đối với thật tướng ấy.
2. Chú Đà La Ni còn có những tên gọi nào?
Phẩm này đề cập đến Chú Đà La Ni. Đây là những lời chú bí mật do chư Phật, Bồ Tát nương vào sức thiền định mà tuyên nói.
Đà La Ni có năm tên gọi khác nhau. Ngoài tên Đà La Ni, còn có: Minh, Chú, Mật Ngữ và Chân Ngôn.
Theo O Điền Phật Giáo Đại Từ Điển, trang 1182:
- Minh: Vì Phật nhập định, phóng ánh sáng rồi tuyên nói thần chú, nên gọi là Minh.
- Chú: Trước khi Phật pháp truyền đến Trung Hoa, nơi đây đã có những phương pháp cấm chú thế gian, được cho là có thể phát sinh sự linh nghiệm và trừ bỏ tai họa. Đà La Ni của Phật giáo cũng có chức năng được trình bày theo phương diện này, nên được gọi là Chú.
- Mật Ngữ: Vì phàm phu và hàng Nhị Thừa không thể hiểu biết hết được, nên gọi là Mật Ngữ.
- Chân Ngôn: Vì lời nói của Như Lai chân thật, không hư dối, nên gọi là Chân Ngôn.
3. Vì sao chư Bồ Tát nói Đà La Ni trong Kinh Pháp Hoa?
Trong phẩm Đà La Ni của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, các vị Dược Vương Bồ Tát, Dũng Thí Bồ Tát, các vị Thiên Vương, Thần Vương và những chúng sinh khác nhau đều tuyên nói Đà La Ni thần chú, với mục đích hộ trì những người tu hành đúng như pháp và những vị Pháp sư hoằng truyền Kinh Pháp Hoa.
Trong số các Đà La Ni được nói đến ở phẩm này, có ba bài vốn đã được vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng tuyên nói.
Kinh văn ghi:
“Phật dạy: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đối với kinh này, dù chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu, đọc tụng, hiểu nghĩa và tu hành đúng như lời kinh dạy, thì công đức đạt được cũng rất nhiều.
Bấy giờ, Dược Vương Bồ Tát bạch Phật:
‘Bạch Thế Tôn! Nay con sẽ nói Đà La Ni thần chú để bảo hộ những người thuyết pháp.’”
Trước đoạn kinh này, Đức Phật đã nói đến công đức cúng dường vô số chư Phật, nhiều đến tám trăm vạn ức na-do-tha vị, nhiều như cát sông Hằng.
Thế nhưng, công đức ấy vẫn không bằng công đức của người có thể thọ trì Kinh Pháp Hoa, đọc tụng thông suốt hoặc biên chép kinh quyển; cho đến người chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu trong kinh, rồi đọc tụng, hiểu rõ nghĩa lý và thực hành đúng như lời kinh dạy.
Vì vậy, Dược Vương Bồ Tát tuyên nói một bài chú để hộ trì những người thuyết giảng Kinh Pháp Hoa. Bài chú này gồm 43 câu, phần nguyên văn trong bài giảng được lược bỏ.
Dược Vương Bồ Tát lại bạch Đức Phật:
“Bạch Thế Tôn! Đà La Ni thần chú này do sáu mươi hai ức hằng hà sa chư Phật tuyên nói. Nếu có người xâm phạm, hủy hoại vị Pháp sư này thì cũng chính là xâm phạm, hủy hoại những vị Phật ấy.”
Đoạn kinh cho thấy bài thần chú mà Dược Vương Bồ Tát nói để hộ trì Pháp sư vốn do sáu mươi hai ức hằng hà sa chư Phật tuyên nói. Dược Vương Bồ Tát chỉ truyền lại, chứ không phải tự mình sáng tác.
Đại sư Cát Tạng, trong Pháp Hoa Nghĩa Sớ, quyển thứ mười hai, đã giải thích nghĩa của năm bài thần chú được nói đến trong kinh. Điều này cho thấy Minh, Chú và Chân Ngôn tuy thường được phiên âm để giữ lại âm tiếng Phạn nguyên gốc, nhưng không phải là những âm thanh hoàn toàn không có ý nghĩa.
Trong Chánh Pháp Hoa Kinh, quyển thứ mười, một bản dịch khác cùng hệ kinh điển với Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, năm bài chú này được dịch theo nghĩa. Sau đây là bản dịch nghĩa của 43 câu chú do Dược Vương Bồ Tát tuyên nói:
“Điều kỳ diệu, điều được suy nghĩ, ý niệm, không ý niệm, lâu dài, điều được thực hành phụng tu, vắng lặng, thanh đạm, chí tĩnh lặng, giải thoát, cứu độ, bình đẳng, không tà vạy, an hòa, bình đẳng khắp nơi, diệt tận, không cùng tận, không gì vượt hơn, huyền diệu tĩnh lặng, thanh nhiên, tổng trì, quán sát, chiếu sáng, có nơi nương tựa, bên trong có chỗ dựa vững chắc, rốt ráo thanh tịnh, không có chỗ lõm xuống, cũng không có chỗ cao thấp, không có sự xoay vòng, nơi chốn đi lại, mắt thanh tịnh, bình đẳng không có gì để so sánh, giác ngộ rồi vượt qua, quán sát các pháp, hợp tụ đại chúng, không âm thanh, lời nói được giải bày sáng tỏ, giữ lòng biết đủ, trừ bỏ mọi giới hạn, truyền bày âm thanh, hiểu rõ các tiếng, hiểu rõ văn tự, không có cùng tận, vĩnh viễn không có sức mạnh, không có điều gì để suy niệm.”
Các câu chú bằng tiếng Phạn có thể được phân tích về mặt ngôn ngữ; mỗi câu đều có ý nghĩa riêng. Tuy nhiên, khi nối các câu lại với nhau, chưa chắc chúng ta đã hiểu được toàn bộ nội dung và chủ đề của bài chú.
Đó chính là điểm bí mật được trình bày trong giáo nghĩa về thần chú của chư Phật, Bồ Tát. Cũng có thể nói rằng, ý nghĩa Tổng Trì của Đà La Ni nằm ở chỗ một bài thần chú có thể tổng nhiếp và gìn giữ, không để mất những điều được thọ trì.
Đối với bốn bài chú còn lại trong phẩm này, người muốn tìm hiểu thêm có thể đối chiếu Kinh Diệu Pháp Liên Hoa và Chánh Pháp Hoa Kinh.
4. Dũng Thí Bồ Tát tuyên nói Đà La Ni hộ trì người đọc tụng Kinh Pháp Hoa
Sau khi Dược Vương Bồ Tát tuyên nói Đà La Ni như trên, Dũng Thí Bồ Tát tiếp tục tuyên nói một bài thần chú khác. Bài chú này vốn cũng do vô số chư Phật nhiều như cát sông Hằng tuyên nói.
Bài chú có công năng hộ trì những người đọc, tụng và thọ trì Kinh Pháp Hoa.
Kinh nêu rằng, người được Đà La Ni này hộ trì thì các loài Dạ Xoa, La Sát, Phú Đơn Na, Kiết Giá, Cưu Bàn Trà, ngạ quỷ và những loài khác không thể nhân cơ hội gây hại hay tìm cách làm tổn hại người ấy.
5. Tỳ Sa Môn Thiên Vương tuyên nói thần chú hộ trì Pháp sư
Vị thứ ba là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, vị Thiên Vương hộ thế ở phương Bắc. Ngài tuyên nói thần chú vì lòng thương xót chúng sinh, nhằm bảo hộ những vị Pháp sư hoằng truyền Phật pháp.
Vị thứ tư là Trì Quốc Thiên Vương, vị Thiên Vương hộ thế ở phương Đông.
Thần chú do Trì Quốc Thiên Vương tuyên nói vốn được bốn mươi hai ức chư Phật tuyên nói. Nếu có người xâm phạm hoặc hủy hoại vị Pháp sư được Đà La Ni này hộ trì thì cũng đồng nghĩa với việc xâm phạm, hủy hoại bốn mươi hai ức chư Phật ấy.
6. Các nữ La Sát, Quỷ Tử Mẫu và quyến thuộc phát nguyện hộ trì người thọ trì Kinh Pháp Hoa
Bài thần chú thứ năm do các nữ La Sát cùng tuyên nói.
Có mười vị nữ La Sát được nêu tên:
- Lam Bà.
- Tỳ Lam Bà.
- Khúc Xỉ.
- Hoa Xỉ.
- Hắc Xỉ.
- Đa Phát.
- Vô Yếm Túc.
- Chấp Anh Lạc.
- Cao Đế.
- Đoạt Nhất Thiết Chúng Sinh Tinh Khí.
Ngoài mười vị nữ La Sát này, Quỷ Tử Mẫu cùng các con và quyến thuộc cũng đồng thanh bạch với Đức Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn! Chúng con cũng muốn bảo hộ những người đọc, tụng và thọ trì Kinh Pháp Hoa, giúp họ loại trừ những điều bất lợi và tai họa.”
Sau đó, họ tuyên nói bài Đà La Ni thần chú thứ năm.
Họ còn phát nguyện rằng thà để tất cả ác quỷ nhảy lên đầu mình, chứ không để chúng quấy nhiễu các vị Pháp sư.
Những loài được nêu trong đoạn kinh này gồm La Sát, ngạ quỷ, Phú Đơn Na, Kiết Giá, Tỳ Đà La, Kiền Đà, Ô Ma Lặc Già, A Bạt Ma La, Dạ Xoa Kiết Giá, Nhân Kiết Giá và các loài gây bệnh nóng sốt.
Như vậy, năm bài Đà La Ni trong phẩm này do hai vị Bồ Tát, hai vị Thiên Vương thuộc Tứ Thiên Vương Thiên là Trì Quốc Thiên Vương ở phương Đông và Tỳ Sa Môn Thiên Vương ở phương Bắc, cùng các nữ La Sát, Quỷ Tử Mẫu và những chúng sinh khác tuyên nói.
Theo nội dung kinh, những vị này đều là các bậc Thánh chúng, chư Thiên và chúng quỷ thần đã tiếp nhận Phật pháp, nghe và thọ trì Kinh Pháp Hoa, rồi phát nguyện hộ trì Chánh pháp.
Đức Phật bảo các nữ La Sát:
“Lành thay! Lành thay! Các ngươi chỉ cần có thể bảo hộ người thọ trì danh hiệu Kinh Pháp Hoa thì phước đức đã không thể tính lường, huống chi còn bảo hộ những người thọ trì đầy đủ kinh điển và cúng dường kinh quyển.”
Đoạn kinh này có nghĩa là: Chỉ riêng việc bảo hộ những vị Pháp sư thọ trì và hoằng truyền Kinh Pháp Hoa cũng đã có phước đức không thể hạn lượng. Huống chi còn bảo hộ những người thọ trì đầy đủ kinh điển, đồng thời dùng hàng trăm nghìn loại phẩm vật để cúng dường kinh quyển.
7. Ý nghĩa chính của phẩm Đà La Ni
Qua nội dung bài giảng, có thể nhận ra ba điểm chính:
Thứ nhất, Đà La Ni không chỉ được nói đến dưới hình thức thần chú. Nghĩa căn bản của Tổng Trì còn bao hàm khả năng ghi nhớ, gìn giữ các pháp lành, ngăn ngừa điều ác và không để những điều thiện đã học bị mất đi.
Thứ hai, các thần chú trong phẩm này được trình bày trong nguyện lực hộ trì Kinh Pháp Hoa. Các vị Bồ Tát, Thiên Vương và những chúng sinh phát nguyện hộ pháp đều tuyên nói thần chú nhằm bảo hộ những người đọc, tụng, thọ trì, hiểu nghĩa và thực hành kinh pháp.
Thứ ba, việc thọ trì kinh cần gắn liền với sự hiểu nghĩa và thực hành. Đoạn kinh được trích dẫn không chỉ nhắc đến việc đọc tụng hoặc ghi nhớ văn tự, mà còn nhấn mạnh việc hiểu nghĩa và tu hành đúng như lời kinh dạy.
Điểm này giúp chúng ta hiểu rằng, khi tìm hiểu Đà La Ni, không nên chỉ chú trọng đến âm thanh của thần chú mà bỏ qua ý nghĩa Tổng Trì và việc tu tập theo Chánh pháp.
A Di Đà Phật! 🙏
Xem thêm các bài viết Phật Học Cơ Bản hữu ích khác:
- 33 Ứng Hóa Thân Của Quán Thế Âm Bồ Tát: Ý Nghĩa Và Giải Thích Theo Phẩm Phổ Môn
- Vì Sao Chép Kinh Có Thể Thay Đổi Thói Quen Và Tâm Tính?
- Tam Quy Y Là Gì? Ý Nghĩa Quy Y Phật, Pháp, Tăng Và Những Điều Cần Biết
- Cúng Dường Trong Phật Giáo: Ý Nghĩa, Tam Bảo Và Cách Thực Hành Tại Gia
- Chủng Tử Và Hiện Hành Trong Duy Thức Học: Mỗi Niệm Khởi Đều Đang Định Hình Con Người Bạn
- Chuyển Thức Thành Trí: Tu Hành Thay Đổi Ý Thức Như Thế Nào?
- Tại Sao Thay Đổi Thói Quen Lại Khó Đến Thế? Góc Nhìn Từ A-Lại-Da Thức Và Khoa Học Thói Quen





