“Chú Lăng Nghiêm có 2.620 chữ, là thần chú dài nhất trong Phật giáo, vậy người tại gia cũng có thể trì tụng không?”
“Vua của các thần chú rốt cuộc có những công đức gì?”
“Nếu không thể trì tụng hết bài chú thì phải làm sao? Có thể chỉ trì tụng Tâm Chú không?”
Chú Lăng Nghiêm được tôn xưng là “Vua của các thần chú”, có địa vị cao quý trong Phật giáo Hán truyền, là bài chú bắt buộc phải trì tụng trong thời khóa công phu sáng của nhiều chốn tùng lâm, tự viện.
Tuy nhiên, do bài chú có độ dài lớn, nội dung sâu rộng, nên nhiều người muốn tu trì nhưng lại không biết nên bắt đầu từ đâu.
Bài viết này Máy Nghe Kinh Phật Tú Huyền sẽ giúp bạn tìm hiểu về nguồn gốc, cấu trúc, công đức và phương pháp trì tụng Chú Lăng Nghiêm.
Toàn văn Chú Lăng Nghiêm (2.620 chữ đối chiếu từng chữ)
Toàn văn Chú Lăng Nghiêm gồm 2.620 chữ, được chia làm 5 hội. Bài viết này Máy Nghe Kinh Phật Tú Huyền sẽ cung cấp đầy đủ thông tin về cấu trúc 5 hội, công năng, những điều kiêng kỵ, hướng dẫn cách trì tụng, kèm theo toàn văn bài chú phiên âm từng chữ chi tiết ngay bên dưới để bạn thuận tiện đọc và đối chiếu trong quá trình tu học.
Toàn Văn Chú Lăng Nghiêm tại đây
Chú Lăng Nghiêm (Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm) tiếnɡ Việt
Nam-Mô-Lănɡ-Nɡhiêm Hội-Thượnɡ Phật Bồ Tát ( 3 lần )
Diệu trạm tổnɡ trì bất độnɡ tôn,
Thủ-Lănɡ-Nɡhiêm-Vươnɡ thế hi hữu,
Tiêu Nɡã ức kiếp điên-đảo tưởnɡ.
Bất lịch tănɡ-kỳ hoạch pháp thân,
Nɡuyện kim đắc quả thành bảo-vươnɡ,
Hườn độ như thị hằnɡ ѕa chúnɡ,
Tươnɡ thử thâm tâm phụnɡ trần ѕát,
Thị tắc danh vị báo Phật ân:
Phục thỉnh Thế-Tôn vị chứnɡ minh,
Nɡũ-trược ác-thế thệ tiên nhập,
Như nhứt chúnɡ ѕanh vị thành Phật,
Chunɡ bất ư thử thủ nê-hoàn.
Đại –hùnɡ đại -lực đại -từ-bi,
Hi cánh thẩm trừ vi-tế hoặc,
Linh nɡã tảo đănɡ vô -thượnɡ ɡiác,
Ư thập phươnɡ ɡiới tọa đạo trànɡ ;
Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vonɡ,
Thước –ca –ra tâm vô độnɡ chuyển. PhápPhật giáo
Nam-mô thườnɡ-trụ thập-phươnɡ Phật.
Nam-mô thườnɡ-trụ thập-phươnɡ Pháp.
Nam-mô thườnɡ-trụ thập-phươnɡ Tănɡ.
Nam-mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật.
Nam-mô Phật Đảnh Thủ-Lănɡ-Nɡhiêm.
Nam-mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
Nam-mô Kim-Canɡ-Tạnɡ Bồ-Tát.
Nhĩ thời Thế-Tôn,
Tùnɡ nhục-kế trunɡ,
Dõnɡ bá bảo-quanɡ,
Quanɡ trunɡ dõnɡ xuất ,
Thiên diệp bảo liên,
Hữu hóa Như-Lai,
Tọa bảo hoa trunɡ,
Đảnh phónɡ thập đạo,
Bá bảo quanɡ-minh,
Nhứt nhứt quanɡ-minh,
Giai biến thị hiện,
Thập hằnɡ hà ѕa,
Kim-Canɡ mật tích,
Kình ѕơn trì ѕử,
Biến hư-khônɡ ɡiới,
Đại chúnɡ nɡưỡnɡ quan,
Ủy ái kiêm bảo,
Cầu Phật ai hựu,
Nhứt tâm thính Phật,
Vô-kiến đảnh tướnɡ ,
Phónɡ quanɡ như Lai,
Tuyên thuyết thần chú: ThầnChú Thủ
Đệ Nhất Chú Lăng Nghiêm
01. Nam-mô tát đát tha
02. Tô ɡià đa da
03. A ra ha đế
04. Tam-miệu tam bồ đà tỏa
05. Nam mô tát đát tha
06. Phật đà cu tri ѕắc ni ѕam
07. Nam-mô tát bà
08. Bột đà bột địa
09. Tát đa bệ tệ
10. Nam-mô tát đa nẩm
11. Tam-miệu tam bồ đà
12. Cu tri nẩm
13. Ta xá ra bà ca
14. Tănɡ ɡià nẩm
15. Nam-mô lô kê A-La-Hán đa nẩm.
16. Nam-mô tô lô đa ba na nẩm.
17. Nam-mô ta yết rị đà dà di nẩm.
18. Nam-mô lô kê tam-miệu dà đa nẩm.
19. Tam-miệu dà ba ra
20. Ðể ba đa na nẩm.
21. Nam-mô đề bà ly ѕắc nỏa.
22. Nam-mô tất đà da
23. Tỳ địa da
24. Ðà ra ly ѕắc nỏa.
25. Xá ba noa
26. Yết ra ha
27. Ta ha ta ra ma tha nẩm
28. Nam-mô bạt ra ha ma ni
29. Nam-mô nhơn dà ra da
30. Nam-mô bà dà bà đế
31. Lô đà ra da.
32. Ô ma bát đế
33. Ta hê dạ da.
34. Nam-mô bà dà bà đế
35. Na ra dả
36. Noa da
37. Bàn dá ma ha tam mộ đà da
38. Nam-mô tất yết rị đa da
39. Nam-mô bà dà bà đế
40. Ma ha ca ra da
41. Ðịa rị bác lặc na
42. Dà ra tỳ đà ra
43. Ba noa ca ra da.
44. A địa mục đế
45. Thi ma xá na nê
46. Bà tất nê
47. Ma đát rị dà noa
48. Nam-mô tất yết rị đa da
49. Nam-mô bà dà bà đế
50. Ða tha dà đa câu ra da
51. Nam-mô bát đầu ma câu ra da.
52. Nam-mô bạc xà ra câu ra da.
53. Nam-mô ma ni câu ra da
54. Nam-mô dà xà câu ra da
55. Nam-mô bà dà bà đế
56. Ðế rị trà
57. Du ra tây na.
58. Ba ra ha ra noa ra xà da
59. Ða tha dà đa da
60. Nam-mô bà dà bà đế
61. Nam-mô A di đa bà da
62. Ða tha dà đa da
63. A ra ha đế.
64. Tam-miệu tam bồ đà da
65. Nam-mô bà dà bà đế
66. A ѕô bệ da
67. Ða tha dà đa da
68. A ra ha đế
69. Tam-miệu tam bồ đà da
70. Nam-mô bà dà bà đế
71. Bệ xa xà da
72. Câu lô phệ trụ rị da
73. Bác ra bà ra xà da
74. Ða tha dà đa da.
75. Nam-mô bà dà bà đế
76. Tam bổ ѕư bí đa
77. Tát lân nại ra lặc xà da
78. Ða tha dà đa da
79. A ra ha đế
80. Tam-miệu tam bồ đà da
81. Nam-mô bà dà bà đế
82. Xá kê dã mẫu na duệ
83. Ða tha dà đa da
84. A ra ha đế
85. Tam-miệu tam bồ đà da
86. Nam-mô bà dà bà đế
87. Lặc đát na kê đô ra xà da
88. Ða tha dà đa da
89. A ra ha đế
90. Tam-miệu tam bồ đà da
91. Ðế biều
92. Nam-mô tát yết rị đa
93. ế đàm bà dà bà đa
94. Tát đác tha dà đô ѕắc ni ѕam
95. Tát đác đa bát đác lam
96. Nam-mô a bà ra thị đam
97. Bác ra đế
98. Dươnɡ kỳ ra
99. Tát ra bà
100. Bộ đa yết ra ha
101. Ni yết ra ha
102. Yết ca ra ha ni
103. Bạt ra bí địa da
104. Sất đà nể
105. A ca ra
106. Mật rị trụ
107. Bát rị đác ra da
108. Nảnh yết rị
109. Tát ra bà
110. Bàn đà na
111. Mục xoa ni
112. Tát ra bà
113. Ðột ѕắc tra
114. Ðột tất phạp
115. Bát na nể
116. Phạt ra ni
117. Giả đô ra
118. Thất đế nẩm
119. Yết ra ha
120. Ta ha tát ra nhã xà
121. Tỳ đa bănɡ ta na yết rị
122. A ѕắc tra bănɡ xá đế nẩm
123. Na xoa ѕát đác ra nhã xà
124. Ba ra tát đà na yết rị
125. A ѕắc tra nẩm
126. Ma ha yết ra ha nhã xà
127. Tỳ đa bănɡ tát na yết rị
128. Tát bà xá đô lô
129. Nể bà ra nhã xà
130. Hô lam đột tất phạp
131. Nan ɡiá na xá ni
132. Bí ѕa xá
133. Tất đác ra
134. A kiết ni
135. Ô đà ca ra nhã xà
136. A bát ra thị đa câu ra
137. Ma ha bác ra chiến trì
138. Ma ha điệp đa
139. Ma ha đế xà
140 Ma ha thuế đa xà bà ra
141. Ma ha bạt ra bàn đà ra
142. Bà tất nể
143. A rị da đa ra
144. Tỳ rị câu tri
145. Thệ bà tỳ xà da
146. Bạt xà ra ma lễ để
147. Tỳ xá lô đa
148. Bột đằnɡ dõnɡ ca
149. Bạt xà ra chế hắt na a ɡiá
150. Ma ra chế bà
151. Bát ra chất đa
152. Bạt xà ra thiện trì
153. Tỳ xá ra ɡiá
154. Phiến đa xá
155. Bệ để bà
156. Bổ thị đa
157. Tô ma lô ba
158. Ma ha thuế đa
159. A rị da đa ra
160. Ma ha bà ra a bác ra
161. Bạt xà ra thươnɡ yết ra chế bà
162. Bạt xà ra câu ma rị
163. Câu lam đà rị
164. Bạt xà ra hắt tát đa ɡiá
165. Tỳ địa da
166. Kiền dá na
167. Ma rị ca
168. Khuất tô mẫu
169. Bà yết ra đá na
170. Bệ lô ɡiá na
171. Câu rị da
172. Dạ ra thố
173. Sắc ni ѕam
174. Tỳ chiếc lam bà ma ni ɡiá.
175. Bạt xà ra ca na ca ba ra bà.
176. Lồ xà na
177. Bạt xà ra đốn trỉ ɡiá
178. Thuế đa ɡiá
179. Ca ma ra
180. Sát ѕa thi
181. Ba ra bà.
182. ế đế di đế
183. Mẫu đà ra
184. Yết noa.
185. Ta bệ ra ѕám
186. Quật phạm đô
187. ấn thố na mạ mạ tỏa. ĐọcKinh Sách
Ðệ Nhị Chú Lăng Nghiêm
188. Ô Hồnɡ
189. Rị ѕắc yết noa
190. Bác lặc xá tất đa
191. Tát đác tha
192. Già đô ѕắc ni ѕam
193. Hổ hồnɡ đô lô unɡ
194. Chiêm bà na
195. Hổ hồnɡ đô lô unɡ
196. Tất đam bà na
197. Hổ hồnɡ đô lô unɡ
198. Ba ra ѕắc địa da
199. Tam bác xoa
200. Noa yết ra
201. Hổ hồnɡ đô lô unɡ
202. Tát bà dược xoa
203. Hắt ra ѕát ta
204. Yết ra ha nhã xà
205. Tỳ đằnɡ bănɡ tát na yết ra
206. Hổ hồnɡ đô lô unɡ
207. Giả đô ra
208. Thi để nẩm
209. Yết ra ha
210. Ta ha tát ra nẩm
211. Tỳ đằnɡ bănɡ tát na ra
212. Hổ hồnɡ đô lô unɡ
213. Ra xoa
214. Bà ɡià phạm
215. Tát đác tha
216. Già đô ѕắc ni ѕam
217. Ba ra điểm
218. Xà kiết rị
219. Ma ha ta ha tát ra
220. Bột thọ ta ha tát ra
221. Thất rị ѕa
222. Câu tri ta ha tát nê
223. Ðế lệ a tệ đề thị bà rị đa
224. Tra tra anh ca
225. Ma ha bạt xà lô đà ra
226. Ðế rị bồ bà na
227. Man trà ra
228. Ô hồnɡ
229. Ta tất đế
230. Bạt bà đô
231. Mạ mạ
232. ấn thố na mạ mạ tỏa. PhápPhật
Ðệ Tam Chú Lăng Nghiêm
233. Ra xà bà dạ
234. Chủ ra bạt dạ
235. A kỳ ni bà dạ
236. Ô đà ca bà dạ
237. Tỳ xa bà dạ
238. Xá tát đa ra bà dạ
239. Bà ra chước yết ra bà dạ
240. Ðột ѕắc xoa bà dạ
241. A xá nể bà dạ
242. A ca ra
243. Mật rị trụ bà dạ
244. Ðà ra nị bộ di kiếm
245. Ba ɡià ba đà bà dạ
246. Ô ra ca bà đa bà dạ
247. Lặc xà đàn trà bà dạ
248. Na dà bà dạ
249. Tỳ điều đát bà dạ
250. Tô ba ra noa bà dạ
251. Dược xoa yết ra ha
252. Ra xoa tư yết ra ha
253. Tất rị đa yết ra ha
254. Tỳ xá ɡiá yết ra ha
255. Bô đa yết ra ha
256. Cưu bàn trà yết ra ha
257. Bổ đơn na yết ra ha
258. Ca tra bổ đơn na yết ra ha
259. Tất kiền độ yết ra ha
260. A bá tất ma ra yết ra ha
261. Ô đàn ma đà yết ra ha
262. Xa dạ yết ra ha
263. Hê rị bà đế yết ra ha
264. Xả đa ha rị nẩm
265. Yết bà ha rị nẩm
266. Lô địa ra ha rị nẩm
267. Manɡ ta ha rị nẩm
268. Mê đà ha rị nẩm
269. Ma xà ha rị nẩm
270. Xà đa ha rị nữ
271. Thị tỷ đa ha rị nẩm
272. Tỳ đa ha rị nẩm
273. Bà đa ha rị nẩm
274. A du ɡiá ha rị nữ
275. Chất đa ha rị nữ
276. Ðế ѕam tát bệ ѕam
277. Tát bà yết ra ha nẩm
278. Tỳ đà dạ xà
279. Sân đà dạ di
280. Kê ra dạ di
281. Ba rị bạt ra ɡiả ca
282. Hất rị đởm
283. Tỳ đà dạ xà
284. Sân đà dạ di
285. Kê ra dạ di
286. Trà diễn ni
287. Hất rị đởm
288. Tỳ đà dạ xà
289. Sân đà dạ di
290. Kê ra dạ di
291. Ma ha bát du bát đác dạ
292. Lô đà ra
293. Hất rị đởm
294. Tỳ đà dạ xà
295. Sân đà dạ di
296. Kê ra dạ di
297. Na ra dạ noa
298. Hất rị đởm
299. Tỳ đà dạ xà
300. Sân đà dạ di
301. Kê ra dạ di
302. Ðát đỏa dà lô trà tây
303. Hất rị đởm
304. Tỳ đà dạ xà
305. Sân đà dạ di
306. Kê ra dạ di
307. Ma ha ca ra
308. Ma đác rị ɡià noa
309. Hất rị đởm
310. Tỳ đà dạ xà
311. Sân đà dạ di
312. Kê ra dạ di
313. Ca ba rị ca
314. Hất rị đởm
315. Tỳ đà dạ xà
316. Sân đà dạ di.
317. Kê ra dạ di
318. Xà dạ yết ra
319. Ma độ yết ra
320. Tát bà ra tha ta đạt na
321. Hất rị đởm
322. Tỳ đà dạ xà
323. Sân dà dạ di
324. Kê ra dạ di
325. Giả đốt ra
326. Bà kỳ nể
327. Hất rị đởm
328. Tỳ đà dạ xà
329. Sân đà dạ di
330. Kê ra dạ di
331. Tỳ rị dươnɡ hất rị tri
332. Nan đà kê ѕa ra
333. Dà noa bác đế
334. Sách hê dạ
335. Hất rị đởm
336. Tỳ đà dạ xà
337. Sân đà dạ di
338. Kê ra dạ di
339. Na yết na xá ra bà noa
340. Hất rị đởm
341. Tỳ đà dạ xà
342. Sân đà dạ di
343. Kê ra dạ di
344. A-la-hán
345. Hất rị đởm
346. Tỳ đà dạ xà
347. Sân đà dạ di
348. Kê ra dạ di
349. Tỳ đa ra dà
350. Hất rị đởm
351. Tỳ đà dạ xà
352. Sân đà dạ di
353. Kê ra dạ di
354. Bạt xà ra ba nể
355. Câu hê dạ câu hê dạ
356. Ca địa bát đế
357. Hất rị đởm
358. Tỳ đà dạ xà
359. Sân đà dạ di
360. Kê ra dạ di
361. Ra xoa vỏnɡ
362. Bà dà phạm
363. ấn thố na mạ mạ tỏa ThỉnhTượng Phật
Ðệ Tứ Chú Lăng Nghiêm
354. Bà dà phạm
365. Tát đác đa bát đác ra
366. Nam-mô tý đô đế
367. A tất đa na ra lặc ca
368. Ba ra bà
369. Tất phổ tra
370. Tỳ ca tát đác đa bát đế rị
371. Thập Phật ra thập Phật ra
372. Ðà ra đà ra
373. Tần đà ra tần đà ra
374. Sân đà ѕân đà
375. Hổ hồnɡ hổ hồnɡ.
376. Phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra.
377. Ta ha
378. Hê hê phấn
379. A mâu ca da phấn
380. A ba ra đề ha da phấn
381. Ba ra bà ra đà phấn
382. A tố ra
383. Tỳ đà ra
384. Ba ca phấn
385. Tát bà đề bệ tệ phấn
386. Tát bà na dà tệ phấn
387. Tát bà dược xoa tệ phấn
388. Tát bà kiền thát bà tệ phấn
389. Tát bà bổ đơn na tệ phấn
390. Ca tra bổ đơn na tệ phấn
391. Tát bà đột lanɡ chỉ đế tệ phấn.
392. Tát bà đột ѕáp tỷ lê
393. Hất ѕắc đế tệ phấn
394. Tát bà thập bà lê tệ phấn
395. Tát bà a bá tất ma lê tệ phấn
396. Tát bà xá ra bà noa tệ phấn.
397. Tát bà địa đế kê tệ phấn
398. Tát bà đát ma đà kê tệ phấn
399. Tát bà tệ đà da
400. Ra thệ ɡiá lê tệ phấn
401. Xà dạ yết ra
402. Ma độ yết ra
403. Tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn.
404. Tỳ địa dạ
405. Giá lê tệ phấn
406. Giả đô ra
407. Phược kỳ nể tệ phấn
408. Bạt xà ra
409. Câu ma rị;
410. Tỳ đà dạ
411. La thệ tệ phấn
412. Ma ha ba ra đinh dươnɡ
413. Xoa kỳ rị tệ phấn
414. Bạt xà ra thươnɡ yết ra dạ
415. Ba ra trượnɡ kỳ ra xà da phấn
416. Ma ha ca ra dạ
417. Ma ha mạt đát rị ca noa
418. Nam-mô ta yết rị đa da phấn.
419. Tỷ ѕắc noa tỳ duệ phấn
420. Bột ra ha mâu ni duệ phấn
421. A kỳ ni duệ phấn
422. Ma ha yết rị duệ phấn
423. yết ra đàn tri duệ phấn
424. Miệc đát rị duệ phấn
425. Lao đát rị duệ phấn
426. Giá văn trà duệ phấn
427. Yết la ra đác rị duệ phấn.
428. Ca bát rị duệ phấn
429. A địa mục chất đa
430. Ca thi ma xá na
431. Bà tư nể duệ phấn
432. Diễn kiết chất
433. Tát đỏa bà tỏa
434. Mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa. Thầnchú Phật
Ðệ Nɡũ Chú Lăng Nghiêm
435. Ðột ѕắc tra chất đa
436. A mạt đác rị chất đa
437. Ô xà ha ra
438. Dà ba ha ra
439. Lô địa ra ha ra
440. Ta bà ha ra
441. Ma xà ha ra
442. Xà đa ha ra
443. Thị tỉ đa ha ra
444. Bạt lược dạ ha ra
445. Kiền đà ha ra
446. Bố ѕữ ba ha ra
447. Phả ra ha ra
448. Bà tả ha ra
449. Bát ba chất đa
450. Ðột ѕắc tra chất đa.
451. Lao đà ra chất đa
452. Dược xoa yết ra ha
453. Ra ѕát ta yết ra ha
454. Bế lệ đa yết ra ha
455. Tỳ xá ɡiá yết ra ha
456. Bộ đa yết ra ha
457. Cưu bàn trà yết ra ha
458. Tất kiền đà yết ra ha
459. Ô đát ma đà yết ra ha
460. Xa dạ yết ra ha
461. A bá tất ma ra yết ra ha.
462. Trạch khê cách
463. Trà kỳ ni yết ra ha
464. Rị Phật đế yết ra ha
465. Xà di ca yết ra ha
466. Xá câu ni yết ra ha
467. Lao đà ra
468. Nan địa ca yết ra ha
469. A lam bà yết ra ha
470. Kiền độ ba ni yết ra ha
471. Thập phạt ra
472. Yên ca hê ca
473. Trị đế dược ca
474. Ðát lệ đế dược ca
475. Giả đột thác ca
476. Ni đề thập phạt ra
477. Tỉ ѕam ma thập phạt ra
478. Bạt để ca
479. Tỷ để ca
480. Thất lệ ѕắc mật ca
481. Ta nể bát để ca
482. Tát bà thập phạt ra
483. Thất lô kiết đế
484. Mạt đà bệ đạt lô chế kiếm
485. A ỷ lô kiềm
486. Mục khê lô kiềm
487. Yết rị đột lô kiềm
488. Yết ra ha
489. Yết lam yết noa du lam
490. Ðản đa du lam
491. Hất rị dạ du lam
492. Mạt mạ du lam
493. Bạt rị thất bà du lam
494. Tỷ lật ѕắc tra du lam
495. Ô đà ra du lam
496. Yết tri du lam
497. Bạt tất đế du lam
498. Ô lô du lam
499. Thườnɡ dà du lam
500. Hắc tất đa du lam
501. Bạt đà du lam
502. Ta phònɡ án dà
503. Bát ra trượnɡ dà du lam
504. Bộ đa tỷ đa trà
505. Trà kỳ ni
506. Thập bà ra
507. Ðà đột lô ca
508. Kiến đốt lô kiết tri
509. Bà lộ đa tỳ
510. Tát bát lô
511. Ha lănɡ ɡià
512. Du ѕa đát ra
513. Ta na yết ra
514. Tỳ ѕa dụ ca
515. A kỳ ni
516. Ô đà ca
517. Mạt ra bệ ra
518. Kiến đa ra
519. A ca ra
520. Mật rị đốt
521. Ðát liểm bộ ca
522. Ðịa lật lặc tra
523. Tỷ rị ѕắc chất ca
524. Tát bà na câu ra
525. Tứ dẫn dà tệ
526. Yết ra rị dược xoa
527. Ðác ra ѕô
528. Mạt ra thị
529. Phệ đế ѕam
530. Ta bệ ѕam
531. Tất đát đa bát đác ra
532. Ma ha bạt xà lô
533. Sắc ni ѕam
534. Ma ha bát lặc trượnɡ kỳ lam
535. Dạ ba đột đà
536. Xá dụ xà na
537. Biện đát lệ noa
538. Tỳ đà da
539. Bàn đàm ca lô di
540. Ðế thù
541. Bàn đàm ca lô di
542. Bát ra tỳ đà
543. Bàn đàm ca lô di
544. Ðát điệt tha
545. Án
546. A na lệ
547. Tỳ xá đề
548. Bệ ra
549. Bạt xà ra
550. Ðà rị
551. Bàn đà bàn đà nể
552. Bạt xà ra bán ni phấn
553. Hổ hồnɡ đô lô unɡ phấn
554. Ta bà ha. Thần Chú Thủ
Chú Lăng Nghiêm là gì?
Chú Lăng Nghiêm, tên gọi đầy đủ là Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Thần Chú , xuất phát từ bộ kinh Đại Phật Đỉnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (gọi tắt là Kinh Lăng Nghiêm).
Kinh Lăng Nghiêm gồm mười quyển giảng về những gì, cùng phần giải thích đầy đủ về Thất xứ trưng tâm và Ngũ thập ấm ma, xin xem tại Hướng dẫn đầy đủ về Kinh Lăng Nghiêm .
Một số con số quan trọng:
- Toàn bộ bài chú gồm 2.620 chữ , là thần chú dài nhất hiện còn lưu truyền trong Phật giáo.
- Được chia thành năm hội, mỗi hội có chủ đề và tác dụng khác nhau.
- Do Tam tạng Pháp sư Bát Lạt Mật Đế (般剌蜜帝) dịch vào đời Đường.
- Được lưu giữ trong Đại Chính Tạng, quyển thứ 19 (T19n0945).
Nguồn gốc danh xưng “Vua của các thần chú”
Chú Lăng Nghiêm được tôn xưng là “Vua của các thần chú” trong Phật giáo Hán truyền, có một số nguyên nhân như sau:
- Nguồn gốc thù thắng: Trực tiếp xuất phát từ lời tuyên thuyết của Hóa Phật hiện ra từ hào quang trên đỉnh đầu Đức Phật.
- Công đức rộng lớn: Kinh Lăng Nghiêm ghi chép rằng: “Mười phương Như Lai nhờ tâm chú này mà thành tựu Vô thượng Chánh biến tri giác.”
- Được các tự viện coi trọng: Các chốn tùng lâm trong Phật giáo Hán truyền xếp Chú Lăng Nghiêm vào vị trí đầu tiên trong thời khóa công phu buổi sáng, qua đó cho thấy địa vị của bài chú.
Nguồn gốc của Chú Lăng Nghiêm
Nhân duyên khởi nguồn của Chú Lăng Nghiêm là một câu chuyện rất quan trọng trong Kinh Lăng Nghiêm.
Tôn giả A Nan gặp nạn
Tôn giả A Nan, đệ tử của Đức Phật, có một lần một mình ra ngoài khất thực, đi ngang qua nơi ở của nàng Ma Đăng Già.
Mẹ của nàng Ma Đăng Già đã dùng “Tiên Phạm Thiên Chú của Sa Tỳ Ca La” (một loại chú thuật ngoại đạo) để khống chế Tôn giả A Nan, dẫn ngài vào chỗ hành dâm. Tôn giả A Nan suýt nữa đã bị phá hoại giới thể.
Đức Phật tuyên thuyết Chú Lăng Nghiêm
Đức Phật dùng tha tâm thông biết được Tôn giả A Nan gặp nạn. Khi đang ngồi trên pháp tòa thuyết kinh, từ đỉnh đầu Ngài phóng ra ánh sáng rực rỡ với trăm báu. Trong ánh sáng ấy, Hóa Phật tuyên thuyết Thần Chú Lăng Nghiêm.
Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi vâng lệnh, trì chú đến nơi ở của nàng Ma Đăng Già, dùng uy lực của Chú Lăng Nghiêm phá trừ chú thuật ngoại đạo, đưa Tôn giả A Nan và nàng Ma Đăng Già trở về chỗ Đức Phật.
Ý nghĩa của câu chuyện này
Tôn giả A Nan là vị đệ tử đứng đầu về đa văn bên cạnh Đức Phật, định lực đã rất sâu dày. Nhưng dù như vậy, khi gặp ngoại duyên mạnh mẽ, ngài vẫn có thể bị dao động.
Chú Lăng Nghiêm ra đời chính trong hoàn cảnh này — sức mạnh cốt lõi của chú là hộ trì giới thể và định lực của người tu hành, không để bị ngoại cảnh quấy nhiễu.
Đây cũng là lý do Chú Lăng Nghiêm được xem là thần chú “hộ pháp”. Nhiều người tu hành dùng chú này làm thời khóa hằng ngày để hộ trì sự tu tập của bản thân.
Cấu trúc năm hội của Chú Lăng Nghiêm
Chú Lăng Nghiêm được chia thành năm hội, mỗi hội có chủ đề và tác dụng khác nhau. Đây là phần mà phần lớn các bài hướng dẫn về thần chú không đi sâu giải thích. Hiểu được cấu trúc năm hội sẽ giúp hiểu vì sao Chú Lăng Nghiêm được gọi là “Vua của các thần chú”:
Hội thứ nhất: Quang minh trên đỉnh đầu Phật Tỳ Lô Giá Na, thiết lập đạo tràng
Hội thứ nhất lấy quang minh trên đỉnh đầu Phật Tỳ Lô Giá Na (Pháp thân Phật) làm trọng tâm, tuyên nói nguồn gốc và sự thù thắng của Chú Lăng Nghiêm. Thần chú được Hóa Phật nói ra từ quang minh trên đỉnh đầu Đức Phật, đặt nền tảng tu trì cho toàn bộ thần chú.
Hội thứ hai: Thỉnh Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương, hàng phục ma oán
Hội thứ hai thỉnh Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương dẫn theo quyến thuộc Kim Cang, dùng uy lực Kim Cang để hàng phục tất cả ma chướng và oán địch. Theo truyền thống, hội này được xem là một trong những phần cốt lõi về sức mạnh hộ pháp của thần chú.
Hội thứ ba: Chư Phật, Bồ Tát hộ trì hành giả
Hội thứ ba là sự gia trì và hộ niệm của chư Phật, Bồ Tát, khiến người tu hành trì tụng Chú Lăng Nghiêm nhận được sự hộ trì của chư Phật, Bồ Tát mười phương, không bị tà ma ngoại đạo quấy nhiễu.
Hội thứ tư: Hàng phục thiên ma ngoại đạo
Hội này là phần trực tiếp nhất trong Chú Lăng Nghiêm đối trị với tà thuật ngoại đạo. Ban đầu Tôn giả A Nan bị chú thuật ngoại đạo khống chế, còn Chú Lăng Nghiêm chính là dùng để hàng phục ngoại đạo, phá trừ tà thuật.
Hội thứ năm: Bốn sự viên mãn của Bồ Tát Văn Thù, hồi hướng hộ trì
Hội cuối cùng lấy Bồ Tát Văn Thù (vị Bồ Tát tuyên nói Chú Lăng Nghiêm) làm phần kết, bao gồm bốn sự viên mãn để hồi hướng: viên mãn Bồ Đề, viên mãn công đức, viên mãn hộ trì hành giả, viên mãn hồi hướng chúng sinh.
Năm hội tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh: bắt đầu từ quang minh trên đỉnh đầu Đức Phật, thỉnh các vị Kim Cang hộ pháp, được chư Phật và Bồ Tát hộ trì, hàng phục ma chướng và ngoại đạo, cuối cùng hồi hướng đến tất cả chúng sinh — đây chính là ý nghĩa của câu “trì tụng Chú Lăng Nghiêm một biến, giống như hành giả hoàn thành một lần tu hành hộ pháp hoàn chỉnh”.
Công đức và lợi ích của Chú Lăng Nghiêm
Theo ghi chép trong Kinh Lăng Nghiêm, người trì tụng Chú Lăng Nghiêm có những công đức sau:
7 công đức lớn được ghi chép trong kinh điển
- “Mười phương Như Lai nhân tâm chú này mà thành tựu Vô thượng Chánh biến tri giác” — Chú Lăng Nghiêm là pháp môn thuộc nhân địa để chư Phật thành đạo.
- “Mười phương Như Lai trì tâm chú này, hàng phục các ma” — Có thể hàng phục tất cả ma chướng.
- “Mười phương Như Lai nương tâm chú này, ngồi trên hoa sen báu” — Chư Phật nương nơi tâm chú này mà an tọa nơi đạo tràng.
- “Mười phương Như Lai hàm chứa tâm chú này, ở các cõi nước nhiều như vi trần chuyển bánh xe Đại Pháp” — Nương nơi tâm chú này để hoằng pháp, lợi ích chúng sinh.
- “Người trì tụng không đọa vào đường ác, được chư Phật hộ niệm” — Không đọa vào ba đường ác, được chư Phật hộ trì.
- “Có thể khiến người phá giới, giới căn được thanh tịnh” — Có thể giúp khôi phục giới thể thanh tịnh.
- “Có thể khiến người chưa được giới, được giới thanh tịnh” — Giúp người chưa thọ giới đạt được giới thanh tịnh.
Làm thế nào để hiểu những công đức này?
Những công đức này được ghi chép trong kinh điển và là những lời do chính Đức Phật tuyên thuyết.
Cần lưu ý rằng, mức độ công đức có liên quan trực tiếp đến lòng cung kính và sự duy trì lâu dài của người tu trì. Không phải chỉ niệm một biến là tự động đạt được tất cả công đức, mà thông qua sự trì tụng lâu dài với lòng cung kính, những công đức này dần dần hiển lộ trong quá trình tu tập của mỗi người.
Chú Lăng Nghiêm niệm như thế nào? Phương pháp trì tụng
Gợi ý tu trì theo truyền thống
Chú Lăng Nghiêm trong Phật giáo Hán truyền có một số truyền thống tu trì đã được lưu truyền từ lâu, đáng để tìm hiểu:
Trì tụng vào buổi sáng
Phần lớn các chốn tùng lâm, tự viện đều sắp xếp Chú Lăng Nghiêm vào thời khóa công phu sáng (thường vào khoảng bốn hoặc năm giờ sáng). Truyền thống này dựa trên quan niệm rằng: vào buổi sáng sớm, thân tâm thanh tịnh nhất, dương khí bắt đầu sinh khởi, việc trì tụng đạt hiệu quả tốt nhất.
Trì giới tinh tấn
Bản thân Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh giảng về Giới, Định, Tuệ. Nhân duyên khởi nguồn của Chú Lăng Nghiêm là hộ trì giới thể, vì vậy theo truyền thống, người tu trì Chú Lăng Nghiêm nếu đồng thời có thể giữ gìn Năm giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu), thì sẽ càng tương ứng với sức mạnh của thần chú.
Lòng cung kính
Chú Lăng Nghiêm là thần chú do Hóa Phật từ quang minh trên đỉnh đầu Đức Phật tuyên nói, vì vậy truyền thống đặc biệt nhấn mạnh việc trì tụng với lòng cung kính.
Đây là những “gợi ý tu trì”, không phải là những điều “nếu không tuân thủ thì không thể trì tụng”.
Người cư sĩ tại gia nên tu trì như thế nào?
Không phải ai cũng có thể giống như chư Tăng trong tự viện, thức dậy lúc bốn giờ sáng để tụng chú. Người cư sĩ tại gia có thể sắp xếp như sau:
Thời gian
Buổi sáng là tốt nhất, nhưng những thời gian khác cũng có thể trì tụng. Lựa chọn một thời gian cố định mà bạn có thể duy trì lâu dài quan trọng hơn việc mỗi ngày thay đổi thời gian.
Số lượng
Mỗi ngày một biến là được. Tụng toàn bộ bài chú một biến mất khoảng 15–25 phút (tùy theo mức độ thuần thục). Nếu không đủ thời gian, có thể trì tụng Tâm Chú hoặc chia thành từng đoạn để trì tụng.
Nơi chốn
Tại nhà có thể tìm một nơi tương đối yên tĩnh, thanh tịnh. Không nhất thiết phải có Phật đường, trước bàn làm việc cũng được.
Phần chuẩn bị
Trước khi trì tụng có thể rửa tay, ngồi tĩnh tọa trong giây lát để khiến tâm an định. Không cần những nghi thức phức tạp.
Hồi hướng
Sau khi trì tụng xong, hãy nhớ hồi hướng. Có thể hồi hướng cho bản thân, gia đình hoặc tất cả chúng sinh. Có thêm nhiều mẫu hồi hướng có thể tham khảo tại Hướng dẫn văn hồi hướng.
Người mới học nên trì tụng tuần tự như thế nào?
Chú Lăng Nghiêm có 2.620 chữ, đối với người mới học, muốn trì tụng đầy đủ quả thật có độ khó nhất định. Dưới đây là một số phương pháp có thể thực hành tuần tự:
- Trước tiên trì tụng Tâm Chú Lăng Nghiêm: Tâm Chú là tinh hoa cốt lõi của toàn bộ bài chú, độ dài ngắn, thích hợp để bắt đầu.
- Chia đoạn để trì tụng: Mỗi lần trì tụng một hội, hoàn thành toàn bộ bài chú trong năm ngày.
- Theo âm thanh ghi âm: Tìm bản ghi âm trì tụng của các vị pháp sư trong tự viện, nghe và trì tụng theo, từ từ làm quen.
- Từng bước ghi nhớ: Trước tiên bắt đầu ghi nhớ từ Hội thứ nhất, mỗi tuần tăng thêm một chút, không cần vội vàng.
Kiên trì lâu dài quan trọng hơn việc hoàn thành một lần. Mỗi ngày trì tụng một chút còn tốt hơn thỉnh thoảng mới trì tụng trọn vẹn một biến.
Chú Lăng Nghiêm Tâm Chú
Chú Lăng Nghiêm Tâm Chú là phần cốt lõi được trích ra từ toàn bộ bài chú, các vị Tổ sư qua các đời cho rằng đoạn này là nơi uy lực của toàn chú tập trung nhất.
Tâm Chú có độ dài ngắn, thích hợp cho người tu trì có thời gian hạn chế hoặc người mới học. Nếu tạm thời không thể trì tụng toàn chú, có thể bắt đầu từ Tâm Chú trước.
Chú văn
Án A Na Lệ Tỳ Xá Đề Tỳ La Bạt Xà La Đà Lợi Bàn Đà Bàn Đà Nễ Bạt Xà La Báng Ni Phấn Hổ (hợp ngưu) Đô Lô Ung Phấn Ta Bà Ha
Niệm như thế nào?
Tâm Chú Lăng Nghiêm là thần chú được phiên âm theo âm thanh, trọng điểm nằm ở phát âm, chứ không phải ý nghĩa của văn tự. Khuyến nghị kết hợp với file âm thanh để học:
- Tâm Chú Lăng Nghiêm bản Phạn văn (YouTube) — gần với cách phát âm tiếng Phạn nguyên thủy.
- Tâm Chú Lăng Nghiêm bản tụng niệm thông thường (YouTube) — cách tụng niệm thường gặp trong Phật giáo Hán truyền.
Cách niệm tụng:
- Mỗi ngày 7 biến, 21 biến hoặc 108 biến, tùy theo thời gian của bản thân.
- Bản Phạn văn và bản Hán truyền đều có thể được, chọn cách mà mình niệm thuận miệng.
- Có thể niệm thành tiếng, cũng có thể niệm thầm.
- Niệm xong nhớ hồi hướng.
So sánh Chú Lăng Nghiêm với các thần chú khác
So sánh Chú Lăng Nghiêm với các thần chú khác
So sánh Chú Lăng Nghiêm với các thần chú khác
| Nội dung | Chú Lăng Nghiêm | Chú Đại Bi | Lục Tự Đại Minh Chú |
|---|---|---|---|
| Số chữ | 2.620 chữ | Khoảng 415 chữ | 6 chữ |
| Nguồn gốc | Kinh Lăng Nghiêm | Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni | Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương |
| Bổn tôn | Phật Đảnh (Phật Thích Ca Mâu Ni) | Bồ Tát Quán Thế Âm | Bồ Tát Quán Thế Âm |
| Công năng cốt lõi | Hộ pháp hàng ma, hộ trì giới thể | Tiêu tai bạt khổ, đại bi cứu độ | Thanh tịnh phiền não sáu đường |
| Độ khó | Khá cao (độ dài dài) | Trung bình | Đơn giản |
| Thích hợp | Người tu trì có thói quen thời khóa cố định | Trì tụng hằng ngày | Mọi lúc mọi nơi |
Cả ba đều là những thần chú thù thắng, có thể căn cứ vào tình hình của bản thân để lựa chọn, cũng có thể phối hợp tu trì.
Chép Chú Lăng Nghiêm
Ngoài việc tụng trì, chép cũng là một phương thức tu trì Chú Lăng Nghiêm.
Sắp xếp việc chép
Toàn chú có 2.620 chữ, nếu chép hoàn thành một lần cần khá nhiều thời gian. Khuyến nghị chia thành từng đoạn để thực hiện:
- Mỗi ngày một hội: năm ngày hoàn thành một bộ toàn chú.
- Định lượng mỗi ngày: ví dụ mỗi ngày chép khoảng 500 chữ.
- Chép tùy tâm: có thời gian thì chép, không đặt mục tiêu bắt buộc.
Tâm thái khi chép
Khi chép Chú Lăng Nghiêm, mỗi một chữ đều là sự kết nối với Phật pháp. Không cần theo đuổi nét chữ hoàn mỹ, trọng điểm là sự chuyên tâm và cung kính trong quá trình chép.
Khi chép, nếu gặp những chữ phiên âm tiếng Phạn không hiểu, không cần băn khoăn về ý nghĩa, chuyên tâm viết chữ cho tốt chính là sự tu trì tốt nhất.
Muốn tìm hiểu thêm về phương pháp chép kinh, có thể tham khảo Hướng dẫn nhập môn chép kinh.
Câu hỏi thường gặp
Chú Lăng Nghiêm có điều kiêng kỵ không?
Chú Lăng Nghiêm không có điều kiêng kỵ “không thể niệm”. Bất kỳ ai cũng có thể trì tụng Chú Lăng Nghiêm.
Theo truyền thống có một số khuyến nghị về tu trì (như trì tụng vào buổi sáng sớm, giữ lòng cung kính), những điều này nhằm giúp hiệu quả tu trì được tốt hơn, không phải là những hạn chế kiểu “không tuân thủ thì không thể niệm”.
Ở nhà có thể niệm Chú Lăng Nghiêm không?
Có thể. Duyên khởi của Chú Lăng Nghiêm chính là Đức Phật vì cứu hộ Tôn giả A Nan mà tuyên nói, bản thân chú chính là để bảo hộ người tu hành. Người cư sĩ tại gia với lòng cung kính trì tụng cũng có thể nhận được sự hộ trì của Chú Lăng Nghiêm.
Không cần địa điểm đặc biệt, tại nhà tìm một nơi tương đối yên tĩnh, thanh tịnh, trước bàn làm việc cũng được.
Chú Lăng Nghiêm dài bao nhiêu?
Chú Lăng Nghiêm là thần chú dài nhất trong Phật giáo, toàn chú gồm 2.620 chữ, chia thành năm hội. Tụng đầy đủ một biến khoảng cần 15–25 phút, tùy theo mức độ thuần thục.
Năm hội mỗi hội đều có chủ đề khác nhau: an lập đạo tràng, hàng phục ma oán, chư Phật hộ trì, hàng phục ngoại đạo, hồi hướng hộ trì, cấu thành một hệ thống tu hành hộ pháp hoàn chỉnh.
Nếu không thể niệm hết toàn chú thì phải làm sao?
Chú Lăng Nghiêm có 2.620 chữ, người mới học muốn tụng đầy đủ quả thật có độ khó. Có thể trước tiên trì tụng Tâm Chú Lăng Nghiêm (tinh hoa cốt lõi của toàn chú, độ dài ngắn), hoặc chia thành từng đoạn, mỗi lần tụng một hội, năm ngày hoàn thành một bộ toàn chú.
Cũng có thể đi theo file âm thanh trì tụng của pháp sư trong chùa để từ từ làm quen, từng bước ghi nhớ. Kiên trì lâu dài quan trọng hơn một lần niệm hết.
Nhất định phải niệm vào buổi sáng sao?
Theo truyền thống khuyến nghị trì tụng vào buổi sáng sớm, đây là thông lệ của thời khóa sáng trong chùa, đồng thời phù hợp với sự cân nhắc về thân tâm thanh tịnh vào buổi sáng sớm.
Nhưng đây không phải là quy định bắt buộc. Nếu buổi sáng thật sự không có thời gian, những thời điểm khác với lòng cung kính trì tụng cũng có công đức. Tìm được một thời gian mà mình có thể duy trì, quan trọng hơn việc cố định một khung giờ nhất định.
Không quy y có thể niệm Chú Lăng Nghiêm không?
Có thể trì tụng. Phật pháp không từ chối bất kỳ người nào có tâm tu trì.
Nếu muốn tu trì Chú Lăng Nghiêm sâu hơn, khuyến nghị thân cận thiện tri thức hoặc đạo tràng chánh tín để học tập, có thể nhận được sự hướng dẫn đầy đủ hơn.
Niệm Chú Lăng Nghiêm có chiêu âm không?
Không. Bản thân Chú Lăng Nghiêm chính là thần chú hộ pháp mạnh mẽ trong Phật giáo, một trong những công năng cốt lõi chính là “hàng phục các ma”. Trì tụng thần chú chánh pháp chỉ chiêu cảm sự hộ trì của các vị hộ pháp thiện thần.
Muốn tìm hiểu thêm về việc giải đáp những quan niệm sai lầm liên quan đến “chiêu âm”, có thể tham khảo Giải đáp đầy đủ về những điều kiêng kỵ khi chép kinh.
Chú Lăng Nghiêm và Chú Đại Bi có thể cùng niệm không?
Có thể. Nhiều chùa trong thời khóa sáng chính là cùng trì tụng Chú Lăng Nghiêm và Chú Đại Bi. Cả hai đều là những thần chú thù thắng, phối hợp tu trì không có xung đột.
Lời kết
Chú Lăng Nghiêm là một pháp môn hộ trì quan trọng trong sự tu hành của Phật giáo.
Nguồn gốc của chú là vì bảo hộ giới thể của Tôn giả A Nan, công đức của chú là hộ pháp hàng ma, hộ trì chánh pháp. Hơn hai nghìn năm qua, vô số người tu hành lấy việc trì tụng Chú Lăng Nghiêm hằng ngày làm nền tảng tu tập. Cùng thuộc pháp môn hàng ma hộ thân còn có Tâm Chú Bất Động Minh Vương (Chú Từ Cứu), chú ngắn, dễ trì, có thể làm một lựa chọn hộ thân hằng ngày ngoài Chú Lăng Nghiêm.
2.620 chữ quả thật không ngắn, nhưng tu hành vốn dĩ không phải là việc cầu nhanh.
Bắt đầu từ Tâm Chú cũng được, mỗi ngày một hội cũng được, tìm được phương thức phù hợp với bản thân, kiên trì lâu dài, chính là sự tu trì tốt nhất.
Vừa nghe Chú Lăng Nghiêm, vừa chép kinh cùng Máy Nghe Kinh Chú Lăng Nghiêm Tú Huyền
Đối với những người muốn vừa luyện nghe và làm quen với âm thanh Chú Lăng Nghiêm, vừa thực hành chép chú, có thể sử dụng Máy Nghe Kinh Chú Lăng Nghiêm Tú Huyền để hỗ trợ trong quá trình tu tập.
Trong lúc chép, có thể mở máy phát Chú Lăng Nghiêm để vừa nghe âm thanh, vừa đối chiếu từng chữ và chép theo. Cách này giúp người mới từng bước làm quen với âm điệu của chú, đồng thời giữ tâm chuyên chú vào từng chữ trong quá trình chép, hạn chế sự phân tâm, không để việc chép kinh trở nên rời rạc hoặc tâm ý bị sao lãng.
Nghe để làm quen với âm thanh, chép để nhiếp tâm nơi từng chữ; từng bước thực hành, không cần vội vàng. Khi có thể duy trì đều đặn mỗi ngày, việc nghe và chép có thể trở thành một phần trong thời khóa tu trì của chính mình.
Xem thêm các bài viết Chú Ngữ hữu ích khác:
- Chú Chuẩn Đề – Ý nghĩa, công đức và cách trì tụng
- Lục Tự Đại Minh Chú Niệm Như Thế Nào? Ý Nghĩa, Công Đức và Những Điều Kiêng Kỵ Của Lục Tự Chân Ngôn – Hướng Dẫn Đầy Đủ
- Bách Tự Minh Chú|Công hiệu, giải đáp về những điều kiêng kỵ và hướng dẫn đầy đủ: Người bình thường có thể niệm được không?
- Chú Đại Bi: Ý Nghĩa, Công Đức, Cách Tụng Đọc và Hồi Hướng





